Ảnh chụp ở Đền Thượng
Ngày 23/03/2012
Chào mừng bạn đến với website ĐHXD & Kiến trúc Hồng Hà
Tin tức
Ngày 23/03/2012
Ngày 23/03/2012
Ngày 21/11/2011
Ngày 01/11/2011
1. Sơ lược về quá trình xin chủ trương thành lập
trường
- Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu về nguồn lực chất lượng cao cho xã hội nói chung và nguồn nhân lực cho ngành xây dựng nói riêng, một số các Nhà giáo, Nhà khoa học, Nhà quản lý đã qua công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý xây dựng tại các trường Đại học, các Viện nghiên cứu và các cơ quan quản lý xây dựng đã tâm huyết, nỗ lực chuẩn bị các điều kiện để xin thành lập trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà
* Ngày 10/05/2008 Hồ sơ Dự án xin thành lập Trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà đã gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo
* Ngày 26/06/2008 Ban sáng lập Trường nhận được Công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo việc thành lập Trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà sẽ được xem xét sau khi có quyết định về điều kiện và thủ tục thành lập Trường đại học của Thủ tướng Chính phủ
* Ngày 02/03/2009 sau khi có Quyết định 07/2009/QĐ.TTG của Thủ tướng Chính phủ, Ban sáng lập trường đã bổ sung hồ sơ và có tờ trình gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về bổ sung dự án thành trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà
* Ngày 05/08/2009, sau khi xem xét hồ sơ, Đại diện Lãnh đạo Bộ và các vụ, cục chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có buổi làm việc với Ban sáng lập Trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà. Tại buổi họp, Đại diện Ban sáng lập đã báo cáo tóm tắt nội dung Dự án, sự cần thiết thành lập Trường và nhu cầu đáp ứng nguồn nhân lực cho ngành Xây dựng hiện nay
* Ngày 12/08/2009, thực hiện thông báo Kết luận số 534/TB-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại cuộc họp về Dự án thành lập Trường. Ban sáng lập Trường ĐH Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà đã bổ sung và hoàn chỉnh Dự án gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo
* Ngày 14/10/2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo có tờ trình số 739/TTr-BGDĐT kính gửi Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chủ trương thành lập Trường ĐH Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà
* Ngày 10/01/2011, Văn phòng Chính phủ có công văn số 192/VPCP-KGVX gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo ý kiến của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Bộ Giáo dục Đào tạo rà soát, kiểm tra các điều kiện thành lập Trường để đảm bảo đáp ứng đủ tiêu chí theo quy định, lưu ý về địa điểm xây dựng, đội ngũ giảng viên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ
* Ngày 18/01/2011 Bộ giáo dục và đào tạo có công văn số 261/BGDĐT-KHTC gửi Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng
- Về địa điểm và đất đai
- Về điều kiện cơ sở vật chất chuẩn bị cho việc thành lập Trường
- Về chuẩn bị đội ngũ giảng viên
* Ngày 21/01/2011 Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký
văn bản đồng ý chủ trương thành lập Trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng
Hà tại Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
2. Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất
2.1 Về địa điểm và đất đai
* Ngày 26/02/2008, UBND tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) đã có văn bản số 452/UBND-TH nhất trí chủ trương đầu tư Trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà tại khu quy hoạch các trường ĐH tại xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, tình Hà Tây
* Ngày 25/07/2008, UBND tỉnh Hà Tây đã có quyết định số 2911/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu giáo dục tập trung Huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, trong đó Trường ĐH Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà được quy hoạch với diện tích đất là: 19.11 ha
* Ngày 04/09/2008, UBND thành phố Hà Nội có quyết định số 05/2008/QĐ-UBND về việc tiếp tục áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội (mới) các văn bản Quy phạm pháp luật, các cơ chế chính sách do UBND tỉnh Hà Tây đã ban hành trước ngày 01/08/2008
* Ngày 29/07/2008, Bộ Xây dựng có công văn số 26/BXD-KTQH về thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ tại chỉ thị số 260/CT-TTg ngày 04/03/2008 về báo cáo kết quả kiểm tra, rà soát các Đồ án QHXD, Dự án ĐTXD trong phạm vi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, thì Dự án QH Khu giáo dục tập trung Xã Đan Phượng, Huyện Đan Phượng nằm trong nhóm Ib là nhóm các Dự án được tiếp tục triển khai, nhưng cần điều chỉnh về nội dung quy hoạch
* Ngày 26/06/2009, UBND Thành phố Hà Nội có công văn số 86/BC-UBND báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả rà soát các Đồ án quy hoạch, Dự án ĐTXD. Trong đó Khu giáo dục tập trung Huyện Đan Phượng nằm trong danh mục các Dự án được đề nghị rà soát giai đoạn II
* Ngày 12/11/2010, UBND Huyện Đan Phượng đã họp với các Chủ đầu tư và có văn bản số 128/TB-UBND, thông báo tiến độ triển khai thực hiện các Đồ án QH, Dự án ĐTXD trên địa bàn huyện, trong đó yêu cầu Chủ đầu tư Đồ án QH Khu giáo dục tập trung đã có trong quy hoạch được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) phê duyệt lập tờ trình đề nghị UBND Thành phố Hà Nội cho triển khai thực hiện
* Ngày 16/01/2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có buổi làm việc với Chủ tịch UBND huyện và đi kiểm tra thực tế địa điểm Khu giáo dục tập trung. Tại buổi họp, Chủ tịch UBND huyện Đan Phượng đã thể hiện chủ trương chung của huyện là ủng hộ Dự án quy hoạch Khu giáo dục tập trung được tiếp tục triển khai thực hiện
*
Ngày 11/02/2011, Công ty Cổ phần Xây dựng – Du lịch Hà Hải là đơn vị được giao
làm Chủ đầu tư lập quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng đã có công văn số 05/CtyHH
gửi UBND huyện Đan Phượng và công văn số 06/CtyHH gửi UBND thành phố Hà Nội về
việc xin được tiếp tục triển khai thực hiện Dự án Khu y tế và Giáo dục tập
trung Huyện Đan Phượng, Hà Nội


2.2.
Về chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc thành lập Trường
* Công ty Cổ phần Đầu tư – Phát triển Đô thị Thăng Long trong quan hệ phối hợp đào tạo với Trường ĐH Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà đã đồng ý bố trí xây dựng 01 khối nhà 17 tầng nằm trong Dự án Tổ hợp công trình dịch vụ công cộng, văn phòng và nhà ở trên diện tích 12.435m2 tại xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội để làm cơ sở của trường trong giai đoạn đầu. Dự án trên đã khởi công ngày 30/10/2009, phần cọc khoan nhồi, tường vây, móng và 3 tầng hầm đã hoàn thành, hiện đang thi công các tầng trên. Công trình dự kiến sẽ hoàn thành vào Quý III/2013 riêng 01 khối nhà 17 tầng dự kiến hoàn thành vào Quý III/2012. Phương án sử dụng 02 khối nhà 17 tầng như sau:
* Bố trí phòng làm việc của Ban giám hiệu, các phòng trực thuộc các khoa và bộ môn, các trung trâm triển khi kỹ thuật 7 tầng trên (từ tầng 11 đến tầng 17)
* Bố trí 8 giảng đường mỗi giảng đường 80 chỗ ngồi, 3 giảng đường mỗi giảng đường 60 chỗ, 4 giảng đường mỗi giảng đường 60 chỗ, 5 giảng đường mỗi giảng đường 40 chỗ, học 2 buổi đảm bảo dung lượng 2.560 sinh viên.
* Khối nhà 17 tầng này sẽ chuyển thành vốn vật chất cho việc thành lập Trường, tầng 13 được bố trí làm thư viện.
*
Thực hiện sự phối hợp đào tạo giữa Trường Đh Xây dựng và Kiến táuc Hồng Hà và
Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Âu Lạc, hai bên thống nhất xây dựng phòng thí
nghiệm và kiểm định chất lượng xây dựng theo Quyết định số 14/QĐ-Cty
2.3 Về đội ngũ giảng viên
Ban sáng lập trường đã mời được một đội ngũ giảng viên gồm 102 người, trong đó gồm:
- 54 giảng viên mời làm giảng viên cơ hữu (có 43 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ chiếm tỷ lệ 79%).
- 48 giảng viên mời làm giảng viên thỉnh giảng (có 13 phó giáo sư, tiến sĩ chiếm tỷ lệ 27%)
Đa số các giảng viên là những người có nhiều năm giảng dạy trong các trường Đại học Xây dựng và Kiến trúc, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học và quản lý xây dựng, có thể đảm bảo khả năng sư phạm và thực tiễn cao trong công tác giảng dạy của Nhà trường. Giảng viên thỉnh giảng hầu hết được mời từ các Viện nghiên cứu chuyên ngành có khả năng cập nhật khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng triển khai ứng dụng thực tiễn cao.
3. Kế hoạch chuẩn bị các điều kiện, thủ tục để xin quyết định thành lập trường
3.1 Những thông tin chính về trường

|
CÁC PHÒNG BAN CHUYÊN MÔN
CÁC TRUNG
TÂM ỨNG DỤNG VÀ TRIỂN KHAI KỸ THUẬT TRỰC THUỘC TRƯỜNG |
CÁC KHOA TRỰC THUỘC TRƯỜNG |
3.2 Những điều kiện, thủ tục cần hoàn thành để xin quyết định thành lập trường
* Quy hoạch xây dựng trưởng tỷ lệ 1/500 và giấy phép xây dựng
* Văn bản giao 20.4 ha đất xây dựng trường và giấy chứng nhận đầu tư của UBND thành phố Hà Nội
* Báo cáo về tình hình thực hiện dự án xây dựng trường với nội dung:
- Diện tích giảng đường 3 m2 /sinh viên
- Diện tích phòng làm việc cho giảng viên, cán bộ của trường 8m2/người
- Phòng thí nghiệm
- Thư viện
- Phương án tài chính chuẩn bị cho hoạt động của trường
- Giải pháp tổ chức thực hiện từng giai đoạn
* Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền đối với số vốn góp đã đầu tư và số vồn góp được chuyển vào tài khoản của Ban quản lý Dự án
*
Danh mục các chương trinh đào tạo đại học dự kiến
* Cơ cấu tổ chức bộ máy dự kiến của nhà trường
* Dự kiến số lượng giảng viên theo cơ cấu trình độ, giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên
* Dự thảo Quy chế tổ chức hoạt động.
Ngày 01/09/2011
Tính đến ngày 14/9, nhiều trường ĐH vẫn chưa đủ nguồn tuyển so với chỉ tiêu NV2. ĐH Thái Nguyên nhận được 2.860 chỉ tiêu NV2, trong khi chỉ tiêu NV2 là 5.000, còn thiếu hơn 2.000 chỉ tiêu. ĐH Công nghiệp Quảng Ninh nhận được 257 hồ sơ xét tuyển NV2, chỉ tiêu là 660.

Số lượng thí sinh phân hoá mạnh ở từng ngành, khối
Tính đến sáng 14/9, ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) liên tục cập nhật thí sinh đăng ký NV2, nhưng các ngành trong tình cảnh "kẻ ăn không hết người lần chẳng ra". Nếu như ngành Toán có 75 thí sinh đăng ký, Toán - Tin ứng dụng có 71 thí sinh đăng ký (thí sinh cao điểm nhất tính từ trên xuống dưới là 23 điểm) thì có những ngành thật ảm đạm: Vật lý có 15 thí sinh đăng ký, Khoa học vật liệu 11 thí sinh, Sinh học 9 thí sinh, Địa chất 11 thí sinh, cá biệt ngành Công nghệ hạt nhân vỏn vẹn có 6 thí sinh. Một số ngành khác như Khí tượng - Thuỷ văn - Hải dương học có 34 thí sinh, Địa lý 13 thí sinh, Địa chính 36 thí sinh, Địa chất 11 thí sinh, Quản lý tài nguyên - thiên nhiên 27 thí sinh.
ĐH Khoa học tự nhiên đã quyết định điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh NV2, nhưng có những ngành như Địa lý với 25 chỉ tiêu, thì không thể tuyển đủ (vì chỉ có 13 thí sinh đăng ký); ngành Khí tượng - Thuỷ văn - Hải dương học chỉ có 34 thí sinh đăng ký, so với chỉ tiêu là 70…
Một trường thành viên khác của ĐH Quốc gia Hà Nội là ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng rơi vào tình cảnh tương tự và ngay trong một ngành, từng khối cũng có sự phân hoá mạnh. Tính đến chiều 14/9, ngành Triết học khối A chỉ có 3 thí sinh, khối D có 4 thí sinh nhưng khối C có đến 52 thí sinh. Ngành Chính trị học khối A cũng chỉ dừng ở con số 3 thí sinh, khối D 4 thí sinh, trong khi khối C là 66 em. Ngành Thông tin - thư viện, khối C có 54 thí sinh nhưng khối D có 3 thí sinh. Ngành Hán Nôm cũng chỉ có 4 thí sinh khối D, ngành Nhân học có 5 thí sinh khối D. Ngành Sư phạm Ngữ văn, khối C khá dồi dào với 125 thí sinh, nhưng khối D chỉ có 28 em. Văn học khối C có 91 thí sinh, khối D có 28 thí sinh. Đồng đều hơn cả, có lẽ là ngành Xã hội học, với khối A 10 thí sinh, khối C 25 thí sinh và khối D 14 thí sinh. Tuy nhiên, điểm của thí sinh đăng ký vào trường này lại khá cao, cao nhất là 22 điểm và thấp nhất là 17 điểm, do đó chất lượng đầu vào sẽ ở mức khá.
i diện Phòng Đào tạo Trường ĐH Sư phạm Hà Nội cho hay, tổng số thí sinh đăng ký xét tuyển nguyện vọng 2 vào trường tính đến ngày 14/9 là 517 em. ĐH Nông nghiệp có 586 thí sinh đăng ký xét tuyển NV2. Còn ĐH Thương mại cho biết, có tới 1.420 thí sinh nộp đơn nguyện vọng 2, thí sinh cao điểm nhất là 23, số có tổng điểm 3 môn thi từ 6 đến 8 điểm tương đối nhiều.
Tuy nhiên, do thí sinh nghiên cứu không kỹ nên ở ĐH Thương mại, nhiều thí sinh đã đăng ký nguyện vọng 2 sai ngành, sai khối thi, do đó nhà trường phải ra thông báo, chỉ xét tuyển NV2 hệ ĐH ở 4 ngành Quản trị hệ thống thông tin thị trường và thương mại, Quản trị thương hiệu, Quản trị nguồn nhân lực thương mại và Quản trị tổ chức dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe. Hiện đã có 196 thí sinh nộp đơn vào ĐH Thương mại nhưng đã rút hồ sơ đầu quân vào trường khác.
Sẽ lấy hết những thí sinh bằng điểm ở tốp cuối
Thí sinh nộp đơn nguyện vọng 2 vào các trường thì có hàng chục, thậm chí hàng trăm thí sinh cùng ở một mức điểm, trong trường hợp này các trường sẽ xử lý như thế nào? Ông Phạm Văn Bổng, Trưởng phòng Đào tạo ĐH Công nghiệp Hà Nội cho biết, nếu có nhiều thí sinh bằng điểm nhau ở tốp cuối cận kề những chỉ tiêu cuối cùng thì trường sẽ lấy hết số thí sinh đó, có thể vì thế mà sẽ vượt một chút chỉ tiêu, nhưng sẽ "bù" lại bằng số thí sinh không đến nhập học. Phương án này sẽ đảm bảo quyền lợi cho thí sinh và nhà trường không bị động về nguồn tuyển.
Cùng chung quan điểm, ông Bùi Đức Hiền, Trưởng phòng Đào tạo ĐH Điện lực cho hay, nhiều thí sinh cũng băn khoăn không biết có được tuyển không, quan điểm của nhà trường cũng sẽ tuyển hết những thí sinh cùng điểm thi. Được biết, tính đến 14/9, tổng số hồ sơ đăng ký NV2 vào ĐH Điện lực là 1.844 thí sinh, trong đó hệ ĐH có 208 thí sinh (chỉ tiêu 210) và hệ CĐ là 1.536 thí sinh, chỉ tiêu xấp xỉ 800. Còn ở ĐH Công nghiệp, hệ CĐ có tới 5.000 thí sinh đầu quân (chỉ tiêu là 4.000), hệ ĐH có 1.600 thí sinh (gấp 1,5 lần chỉ tiêu). Phút cuối đã có 381 thí sinh đã rút đơn NV2 khỏi ĐH Công nghiệp.
Tính đến ngày 14/9, nhiều trường ĐH vẫn chưa đủ nguồn tuyển so với chỉ tiêu NV2. ĐH Thái Nguyên nhận được 2.860 chỉ tiêu NV2, trong khi chỉ tiêu NV2 là 5.000, còn thiếu hơn 2.000 chỉ tiêu. ĐH Công nghiệp Quảng Ninh nhận được 257 hồ sơ xét tuyển NV2, chỉ tiêu là 660. Nhiều trường ĐH địa phương cũng đang rất khát nguồn tuyển như: ĐH Công nghiệp Việt Trì hệ đại học chỉ có 183 hồ sơ, nhưng lại có tới 650 chỉ tiêu xét tuyển; hệ cao đẳng của trường mới chỉ có 983 hồ sơ trong tổng số 1.500 chỉ tiêu. ĐH Quảng Bình có 433 hồ sơ xét tuyển NV2/1.020 chỉ tiêu. ĐH Hồng Đức (Thanh Hóa) hiện mới có hơn 1.300 hồ sơ xét tuyển NV2, trong khi đó chỉ tiêu gần 2.000.
Để chủ động nguồn tuyển, nhiều trường đã lên phương án xét tuyển NV3, như ĐH Nguyễn Trãi lấy 210 chỉ tiêu NV3 (căn cứ vào kết quả kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2011) cho 2 ngành Kỹ thuật công trình xây dựng và Kỹ thuật môi trường
Sự kiện
Ngày 01/09/2011
- Tên tiếng Việt: Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà
- Tên tiếng Anh: HongHa University of Civil Engineering and Architecture
- Tên viết tắt: HUCA
1. Địa điểm đặt trụ sở trường:
Trụ sở Trường đặt tại khu giáo dục tập trung, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng chính thức, hoạt động và văn phòng của Trường đặt tại tòa nhà 17 tầng nằm trong khối tổ hợp nhà ở 30 tầng và văn phòng 17 tầng do Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển đô thị Thăng Long là đơn vị phối hợp đào tạo với Trường quản lý, địa chỉ: 21 Lê Đức Thọ, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội.
2. Mục tiêu:
- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, có đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Đào tạo sinh viên đại học nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.
- Đào tạo học viên cao học nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.
- Đào tạo nghiên cứu sinh tiến sỹ có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn.
3. Phương châm:
Phương châm đào tạo là thiết thực, chuyên sâu vừa chú trọng kiến thức, tư duy khoa học vừa chú trọng tay nghề thực hành, giữ gìn uy tín, chất lượng đào tạo.
4. Sứ mệnh
Tri thức – Thực tiễn – Nhân văn – Thành đạt
Đến Đại học Xây dựng và Kiến trúc Hồng Hà để trau dồi tri thức, năng lực sáng tạo, tư duy khoa học, để nâng cao trình độ thực hành, tay nghề, khả năng đáp ứng thực tiễn, để trở thành người có sức khỏe, đạo đức, lối sống văn hóa, để là người khẳng định mình, có ích cho đất nước, có ý chí phấn đấu thành đạt.
Nhiệm vụ:
- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và nắng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng với việc làm trong xã hội, có khả năng tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác; có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp.
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định khác của pháp luật.
- Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của Trường đủ về số lượng, đảm bảo về tiêu chuẩn chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ cơ cấu ngành nghề theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Tuyển sinh và quản lý người học theo quy định.
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường.
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài sản theo quy định của pháp luật.
- Phối hợp với các tổ chức, cá nhân và gia đình của người học trong hoạt động giáo dục.
- Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo.
- Giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá dân tộc.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
5. Quyền hạn:
Trường được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự. Cụ thể là:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường đại học của Nhà nước.
- Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề nhà trường được phép đào tạo trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; tổ chức tuyển sinh; tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục; hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của luật pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất và việc làm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội.
- Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học và công nghệ; đăng ký, tham gia tuyển chọn ký kết và thực hiện hợp đồng khoa học và công nghệ, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ; góp phần xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước.
- Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao, chuyển nhượng và công bố kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội. Quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của trường.
- Nhận tài trợ của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật để bổ sung nguồn tài chính cho nhà trường; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh; sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất của trường; tài trợ cho các hoạt động thực hiện chính sách ưu đãi đối với con em gia đình thuộc diện chính sách, các hoạt động xã hội nhân đạo và từ thiện.
- Được Nhà nước giao quyền sử dụng đất; được thuê đất, vay vốn và được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức bộ máy nhà trường, tuyển dụng đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên; thành lập và giải thể các tổ chức khoa học và công nghệ, các đơn vị dịch vụ và các doanh nghiệp của trường theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai, trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ và hoạt động tài chính.
- Thực hiện chế độ báo cáo cơ quan quản lý trực tiếp và các cơ quan cấp trên về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành.
6. Ngành nghề đào tạo:
Đào tạo các ngành và chuyên ngành Kỹ thuật công trình, ngành và chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch, có tính chuyên sâu, phù hợp với nhu cầu xã hội nói chung và ngành xây dựng công trình nói riêng. Có chú trọng các chuyên ngành: Quản lý đô thị, Công trình ngầm, Công trình biển, Công trình kỹ thuật phức tạp… Đào tạo các trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ với hình thức đào tạo: dài hạn, ngắn hạn, liên thông, tại chức... theo học chế tín chỉ.